Saturday, December 27, 2025

những cuộc dạo chơi

đến giờ tôi lại muốn gọi những cuộc đi bộ của Seelig cùng Walser là những cuộc dạo chơi, dẫu cho chúng vượt quá tật tật hình dung thông thường về một sự dạo chơi. Những cuộc đi ấy đơn thuần là leo lên một chuyến tàu và rời đi. Điểm đến được định chỉ đôi ba phút trước khi hai đôi chân đặt lên nền sân ga. Là những cuộc đi bất kể mưa nắng, cái nóng và cái lạnh. Walser, ở tuổi của ông khi ấy, đã dễ nhiễm lạnh, vẫn cứ thường mang theo một cái ô nhưng ông luôn quên chiếc áo choàng khi đi hằng chục kilomet như thế. Và có nghĩa lý gì đâu khi thân thể mỏi mệt, đôi chân tê cóng trong sự buốt giá của một ngày tuyết tan hay cái đầu nóng phừng sau để lại phía sau là cả rặng núi, nếu điều còn lại là một niềm vui thú và hân hoan của hai tâm hồn hòa hợp, thì đó là một cuộc dạo chơi đích thực. 


Wanderungen mit Robert Walser. Suhrkamp Verlag, 1977.

                                                    Thật ghê rợn làm sao dưới những vòng quay máy móc lớn

của thế giới ngày nay khi chúng ta chẳng trao cho

sự tồn tại cá nhân của chính chúng ta

một phẩm giá riêng cao quý!

Jacob Burckhardt


Ngày 26 tháng Bảy 1936


Những liên lạc của chúng tôi mở đầu bằng một vài bức thư rành mạch; những câu hỏi và câu trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm. Tôi đã biết rằng Robert Walser vào đầu năm 1929 đã được chuyển vào viện điều dưỡng Waldau vùng Bern như là một bệnh nhân tâm thầm và từ tháng Bảy 1933 ông đã sống ở đây với tư cách là bệnh nhân của viện điều dưỡng trị liệu vùng Kanton của Appenzell-Außerrhoden tại Herisau. Tôi tri nhận một mong mỏi được làm điều gì đó cho việc xuất bản những tác phẩm của ông và cho cả chính ông. Dưới tất tật các nhà văn cùng thời của Thụy Sỹ, với tôi, ông hiện ra là một cá tính độc đáo nhất. Ông đồng ý việc tôi đến thăm ông. Thế là vào sáng sớm ngày chủ nhật ấy tôi đã đi từ Zürich đến St.Gallen, thong dong đi qua thành phố và lắng nghe ở Stiftskirche bài giảng về “Sự lãng phí của các tài năng”. Chuông nhà thờ ở Herisau điểm khi tôi vừa tới nơi. Tôi ghi danh ở chỗ bác sĩ điều trị của nhà thương, bác sĩ Otto Hinrichsen, và nhận từ ông sự cho phép để đi dạo cùng Robert.

Thế rồi nhà thơ năm mươi tám tuổi từ tòa nhà bên cạnh đi tới trong sự hộ tống của một bảo vệ. Tôi giật mình về vẻ bên ngoài của ông. Một khuôn mặt trẻ con, tròn, như bị xẻ đôi bởi một cú sét đánh cùng gò má ửng đỏ, đôi mắt xanh và bộ ria mép ngắn màu vàng. Tóc trên thái dương đã bạc. Cổ áo đã sờn và chiếc cà vạt hơi xộc xệch; răng không ở trong tình trạng tốt nhất. Khi bác sĩ Hinrichsen muốn cài cái khuy áo trên cùng của ông vào, thì ông cự lại: “Không, nó phải để mở!” Ông nói trong âm điệu tiếng Đức vùng Bern, hệt như khi ông đã nói như thế ở Biel trong thời tuổi trẻ. Sau lời chào khá đột ngột từ ông bác sĩ, chúng tôi đi theo con đường ra nhà ga Herisau và tiếp tục đến St.Gallen. Đó là một ngày hè nóng nực. Trên đường đi nhiều người đi lễ nhà thờ trông thấy chúng tôi, chào vui vẻ. Người chị Lisa của Robert đã lưu ý tôi rằng em trai của bà luôn hoài nghi một cách lạ thường. Tôi nên làm gì đây? Tôi im lặng. Ông im lặng. Sự im lặng là một cầu nối hẹp, đi qua nó chúng tôi sẽ bắt gặp nhau. Chúng tôi đi qua khung cảnh đồng quê với thân người nóng bừng, một khung cảnh cánh rừng và đồng cỏ uốn cong và chẳng ma mị. Thi thoảng Robert đứng lại để châm một điếu Maryland và dụi mũi.

Bữa trưa tại Löchlibad. Lần rũ lạnh đầu tiên bên rượu vang và bia màu đỏ máu của vùng Bern. Robert kể rằng ông từng làm việc ở một tổ chức tín dụng Thụy Sỹ và ở ngân hàng Kanton trước thời điểm chuyển giao thế kỷ. Thế nhưng chỉ theo tháng, để lại khiến mình tự do thành một nhà thơ. Người ta không thể cùng lúc phục vụ hai ông chủ được. Khi ấy quyển sách đầu tiên của ông đã được hình thành, “Fritz Kochers Aufsätze”, được nhà xuất bản Insel ấn hành năm 1904 với mười một tranh minh họa của anh trai Karl của ông. Một khoản thù lao cho công việc ấy ông chưa bao giờ trông thấy, và khi nó nằm yên trong lưu thông sách, nó đã được bán rẻ một cách nhanh chóng. Sự ngoài lề của ông khỏi những hội nhóm luận bàn văn chương đã làm tổn hại khá nặng tới ông về tài chính. Thế nhưng sự thần thánh hoá như nó phổ biến ở nhiều nơi, chỉ khiến ông thấy ghê tởm. Nhà văn chỉ bởi thế mà bị giáng xuống thành kẻ lau giày. Đúng rồi, ông cảm nhận được, thời của ông đã qua. Thế nhưng nó chẳng hề hấn gì. Khi người ta đi tới gần tuổi sáu mươi thì họ nhất định phải có thể nghĩ về một tồn tại khác chứ. Ông đã viết những quyển sách của mình không khác gì so với một người nông dân gieo hạt, cắt cỏ, chiết cành, cho gia súc ăn và cả dọn phân. Bởi cảm giác nghĩa vụ và để có thứ gì đó ăn. “Với tôi đó là một công việc cũng như một công việc khác.”

Thời gian năng suất nhất của cuộc đời nhà văn của ông là bảy năm ở Berlin và bảy năm tiếp theo ở Biel. Khi ấy không một ai thúc ép và kiểm soát ông. Tất thảy đã có thể im lặng lớn lên như những quả táo trên một cây táo vậy. Trong hành vi con người thì thời gian sau Thế chiến thứ nhất đối với phần lớn nhà văn là một khoảng thời gian đáng xấu hổ. Văn chương của họ đã nhận lấy một tính cách độc hại, xấu xa. Văn chương phải tỏa ra tình yêu và ấm áp. Sự căm ghét không được phép trở thành lực đẩy. Căm ghét là một nhân tố không hiệu quả. Khi ấy,  giữa những trụy lạc hằn học này, sự đi xuống mang tính sáng tác đã khởi sự…. Người ta đã trao các giải thưởng văn chương vào những vị cứu tinh không đúng hoặc vào những ông thầy đạo đức nào đó. Tốt thôi, ông chẳng thể làm điều gì cả để chống lại. Thế nhưng ông sẽ không cúi mình bởi thế trước bất cứ một ai cho đến cái chết của ông. Các hình thức hội nhóm và thứ tương tự, thêm nữa, lúc nào cũng tự phá hủy chính nó.

Giữa những cuộc hội thoại này là những lưu ý đáng nể về “Idiot” của Dostojewski, “Từ cuộc đời một kẻ vô công rồi nghề” của Eichendorff và thơ hùng tráng của Gottfried Keller. Ngược lại, Rilke thuộc về bàn tráng miệng của các cô thiếu nữ. Từ Jeramias Gotthelf thì hai tập “Uli” gần với ông hơn cả; một vài thứ khác thì với gu của ông lại quá khiên cưỡng và giáo lý.


No comments:

Post a Comment