Tuesday, January 13, 2026

Walser và Seelig

Ngày 3 Tháng Một 1937


Cuộc đi dạo qua St.Gallen và Speicher về phía Trogen mà tôi đã quen từ thời đi học tại Kanton. Bữa trưa tại quán “Schäfli”. Để tưởng nhớ tổ tiên bên ngoại của tôi từng hàng trăm năm dài sở hữu cánh đồng nho bên núi Buchberg vùng Rhein, tôi đã gọi một chai “Buchberger” hạng nặng. Một vở hài kịch kiểu Schwabe, như tiếng Radio rèn rẹt tặng thêm chẳng mong đợi. - Buổi chiều trong bầu không khí tuyết hoài niệm trên ngọn Gräbis nơi mà tôi khi còn là trung úy đã là một nhân vật buồn cười thế nào với một thanh kiếm oai vệ được mượn từ viên bác sĩ làng. Thi thoảng một đợt gió buốt từ phía đông. Robert không mặc áo choàng. Trên chuyến tàu quay về: khuôn mặt ông lúc này hừng sáng như ngọn đuốc được châm lên. Đường nét sâu, khắc khổ từ sống mũi đến cái miệng sưng phồng đỏ ửng thấy rõ. Sân ga của St.Gallen chập chờn bởi những viên sỏi. Robert có những giọt nước trong mắt. Cái bắt tay quyết liệt, vội vã. Những đoạn trích từ các cuộc nói chuyện của chúng tôi:

Thời gian lưu trú của ông ở Zürich kéo dài với nhiều ngắt quãng, từ mùa thu 1896 đến đầu năm 1903; khi thì ông có một chỗ ở tại Zürichberg, khi thì ở Spiegelgasse và ở Schipfe, khi thì cả ở Außershil. - Sự lưu trú của ông ở Berlin kéo dài bảy năm (từ 1906 đến 1913) và tiếp thêm bảy năm nữa cuộc lưu trú thứ hai của ông ở Biel. Ông đã thường hay để ý thấy con số 7 liên tục theo chu kỳ quay lại trong cuộc đời ông như thế nào.

Tại Berlin-Charlottenburg trước hết ông đã cùng anh trai Karl của ông có một căn hộ hai phòng, rồi sau đó là một mình. Thế rồi ông chủ nhà xuất bản Bruno Cassier từ chối tiếp tục hỗ trợ ông về tài chính. Thay vào vị trí của ông ấy trong suốt hai năm, một quý bà giàu có hảo tâm đã lo cho ông. Sau cái chết của bà vào năm 1913, bởi túng bấn ông đã quay trở về quê hương. Mãi lâu sau này ông vẫn phải nghĩ đến vẻ đẹp tĩnh lặng của những khu rừng vùng Märkische Schweiz. Tại Bern, nơi ông sống khoảng tám năm kể từ 1921, những điều thân thuộc đã có ích cho sáng tạo văn thơ của ông. Thế nhưng sự mời gọi vào men say và khoan khoái lại có tác động tiêu cực. “Ở Bern, nhiều khi tôi như phát điên. Tôi săn đuổi những mô típ thơ ca như một gã thợ săn phía sau một con thú hoang. Những con đường dạo bộ xuyên qua các con phố và những cuộc đi dạo dài quanh thành phố đã minh chứng là dồi dào phong phú nhất, những gì nó đem lại, tôi sau đó ở nhà đã đưa lên giấy. Mỗi một sáng tác tốt, cả cái nhỏ bé nhất, đều cần đến cảm hứng lối nghệ sĩ. Với tôi, chắc chắn rằng công việc của nhà thơ chỉ có thể bừng nở trong tự do. Thời gian làm việc thuận tiện nhất của tôi là trước buổi trưa và những giờ ban đêm. Thời gian từ trưa đến tối tác động lên tôi thật đần độn. Khách hàng khá nhất của tôi khi ấy là tờ Prager Presse được tài trợ bởi nhà nước Séc, ông chủ biên tập phoi ơ tông của nó Otto Pick đã cho in tất tật những gì tôi gửi, cả thơ nữa, chúng bay vèo trở lại từ những tờ báo khác hệt như bum mê răng ấy. Trước kia tôi cũng hay làm cho cả tờ Simplicisismus. Nó cứ liên tục trả lại những bài viết của tôi vì thấy quá ít hài hước. Thế nhưng những gì giữ lại thì được trả công khá. Ít nhất là năm mươi Mark cho mỗi mẩu truyện nhỏ, thế là một khoản hời nho nhỏ cho túi tiền của tôi.”
Tôi: “Khả dĩ bối cảnh của viện điều dưỡng và những bệnh nhân có lúc đưa đến cho ông một chất liệu tiểu thuyết chân thực chăng?” -

Robert: “Tôi chẳng tin chút nào. Tôi chẳng có thể xây dựng nó chừng nào chính tôi còn ngồi trong đây. Bác sĩ Hinrichsen còn cho tôi hẳn một căn phòng dùng cho việc viết. Thế nhưng tôi ngồi như đóng đinh trong đó và chẳng tạo ra được cái gì cả. Có thể, nếu tôi hai, ba năm sống trong tự do bên ngoài viện điều dưỡng, thì có thể một bứt phá lớn sẽ đến- .” Tôi: “Ông sẽ cần bao nhiêu để có thể sống như một nhà văn tự do?” - Robert, sau một thoáng suy nghĩ: “Khoảng 1800 Franken mỗi năm.” - “Không hơn ư?” - “Không, thế  là đủ rồi. Thời trẻ tôi đã thường xuyên phải sống qua ngày với ít ỏi ra sao! Người ta có thể sống hoàn toàn ổn mà không có những món đồ vật chất. Dĩ nhiên tôi chẳng thể có nghĩa vụ với một tờ báo lẫn một nhà xuất bản nào. Tôi không muốn nộp những hứa hẹn nào hết mà tôi không thể giữ. Tất tật phải lớn bật ra khỏi tôi lối không ép buộc.”
Một lúc sau: “Nếu tôi có thể quay ngược trở lại vào những năm tuổi ba mươi thì tôi sẽ không viết bồng bột như một kẻ ngây thơ mơ mộng nữa, lập dị và bất cần. Anh ta không được phủ định xã hội. Anh ta phải sống trong nó, đấu tranh cho hoặc chống lại nó. Đấy là sai lầm của các tiểu thuyết của tôi. Chúng quá kỳ quặc và phản chiếu, trong bố cục thì thường quá nhạt nhẽo. Để sự đều đặn kiểu sáng tạo làm ngơ mình, tôi đã đơn giản là hòa tấu. Trước ấn bản mới của Geschwister Tanner tôi đã nên cắt ngắn khoảng bảy mươi hoặc tám mươi trang; bây giờ tôi thấy người ta không được phép phán xét sâu kín như thế về anh chị em của chính mình trước công chúng.” - Tôi: “Tôi mới đây đã đọc “Jakob von Gunten” của ông với sự thích thú. Nó đã được hình thành ở đâu vậy?” - “Ở Berlin. Chủ yếu phần lớn là một sáng tạo văn chương. Táo bạo phết nhỉ? Dưới những quyển sách đa dạng của tôi thì nó với tôi cũng là cuốn yêu thích nhất.” Sau một quãng nghỉ: “Diễn biến càng ít và một bán kính địa phương càng nhỏ mà một nhà thơ cần đến, thì thường tài năng của người đó càng lớn. Với những nhà văn sáng chói trong các diễn biến và đồng thời cần đến trọn cả một thế giới cho các nhân vật của họ thì tôi ngay từ đầu đã rất ngờ. Những điều thường nhật đã đủ đẹp và giàu có để có thể đánh bật ra từ chúng những lấp lánh văn chương.”

Cuộc nói chuyện về kịch gia August von Kotzebue có sự duyên dáng và uyển chuyển xã hội khiến ông ngưỡng mộ. Ông nhớ rằng Kotzebue vào đầu thế kỷ mười chín đã bị đày một năm tới Sibiri và đã viết một hồi ký hai tập về chuyện này. Cả kết cục của ông ấy cũng đã thật ly kì do vụ ám sát bởi thành viên hội huynh đệ yêu nước quá khích Karl Ludwig Sand. Trong thái độ chống lại Schiller và Goethe thì Kotzebue đã tác động với tư cách là một cái phanh cổ lỗ. - Robert không tin vào một khả năng phát triển của văn học Thụy Sỹ, chừng nào nó còn tiếp tục mắc trong những thứ quê mùa. Nó phải cởi mở và khoáng đạt ra mà không có cái rèm chật hẹp lén lút kéo xuống mặt đất thành thứ ra nông dân mọn. Ông khen Uli Bräker, người đàn ông khốn khổ từ Toggenburg, và những tiểu luận Shakespeare của ông ấy. Những tuyệt mĩ nào khác và lớn lao hơn mà Gottfried Keller còn có so với những nhà văn ngày nay chứ, bài thơ “Es wandert eine schöne Sage”, ông đã trích dẫn từ đầu đến cuối. “Heinrich Lục” của Keller là một quyển sách đáng đọc và đáng để yêu thích, tuyệt đối có tính giáo dục cho tất tật các thế hệ. “Một người làm ở viện điều dưỡng mới đây đã muốn áp lên tôi Witiko của Stifter. Thế nhưng tôi nói với bà ấy, tôi không muốn biết gì hết từ một tiểu thuyết phì nộn. Những nghiên cứu thiên nhiên của Stifter với tôi là đủ, những quan sát nội tâm không sao so sánh được nơi ông ấy đã đặt con người vào đó thật quá hài hòa. Cậu nói gì về cái sự chướng của Josef-Trilogie của Thomas Mann? Sao người ta dám làm nát bấy như thế một chất liệu đã ăn sâu trong Kinh Thánh chứ?”

Về các cuộc cách mạng: “Thật là một sự ngớ ngẩn khi muốn dàn dựng các cuộc  nổi dậy bên ngoài các thành phố. Kẻ nào không sở hữu các thành phố, cũng là không sở hữu trái tim của dân chúng. Tất tật các cuộc cách mạng đều thoát ra từ các thành phố. Thế nên tôi xem như là chắc chắn, rằng chính quyền sẽ đạt được chiến thắng cuối cùng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha.”

“Thời đại Wilhelm đã dung túng cho các nghệ sĩ bộc lộ lối lập dị và khoa trương. Phải rồi, nó thực ra đã chiều chuộng cái quái gở. Thế nhưng cả nghệ sĩ cũng phải gắn họ vào cái trật tự thông thường chứ. Họ không được phép trở thành những thằng hề.”



Ngày 26 tháng Bảy 1937


Ra khỏi Nebelküche thuộc St.Gallen bằng xe ô tô bưu điện, hướng tới Rehetobel. Từ đó đi bộ tới Heiden và một thung lũng tựa ngôi làng nằm trên một cái nôi màu lục, quê hương của tổ tiên bên ngoại của tôi. Sau bữa trưa, đi xuyên qua đồi nho của Buchberg lên tới nhà khách “Zum steinernen Tisch”, từ đây có được một cái nhìn phóng xa vào vùng đất Bodensee. Hồi sau, trong cơn gió giật mạnh chúng tôi đi xuyên ngôi làng nhỏ Buchen yên bình, vượt qua ngọn Roschacherberg tới Rorschach. Quay về bằng tàu hỏa.

“Cậu biết tai họa của tôi là gì không? Nghe cho kĩ này! Tất cả những con người lớn lối, họ cho rằng họ được quyền ra lệnh và chỉ trích tôi đều là những kẻ theo chân cuồng tín của Hermann Hesse. Họ không tin tôi. Với họ chỉ có duy nhất một Cái này-Hoặc cái kia: “Hoặc mi viết như Hesse hoặc mi chỉ là và mãi mãi là kẻ thất bại.! Họ phán xét tôi quá khích như thế đấy. Họ không có chút lòng tin nào trong công việc của tôi. Và đó là lý do, vì sao tôi lại hạ cánh trong trại điều dưỡng.  - Đã luôn luôn thiếu ở tôi hào quang thần thánh. Chỉ với nó người ta mới có thể vươn đến thành công trong văn chương. Một hào quang nào đó từ chủ nghĩa anh hùng, từ chủ nghĩa tha thứ và từa tựa thế, và thế là chiếc thang đến thành công ở ngay đây … Người ta nhìn tôi thì khốn khổ, như tôi là. Bởi vậy chẳng một ai xem hoàn toàn coi tôi nghiêm túc.”
Những lưu ý giữa chừng:

“Nếu báo chí cười thích thú thì loài người khóc.”
“Tự nhiên không cần phải gồng mình để có ý nghĩa. Nó là ý nghĩa.”

“Bao nhiêu vòng hoa giải Nobel đã bị quên từ lâu khi mà Jeremias Gotthelf vẫn tiếp tục tồn tại trong tất tật sự gần gũi! Chừng nào còn có một Kanton Bern thì cũng sẽ có một Jeremias Gotthelf.”

“Nhà văn C.F.W.: ông ta trông như một kẻ làm trò rẻ tiền.” 

“Hạnh phúc không phải là chất liệu tốt cho nhà thơ. Nó quá tự thỏa mãn. Nó chẳng cần một góp ý nào cả. Nó có thể tự cuộn tròn mình vào ngủ như một con nhím. Ngược lại, sự đau đớn, các bi kịch và hài kịch: chúng chứa đầy các sức đột phá. Người ta chỉ phải có khả năng châm chúng lên đúng thời điểm. Thế rồi chúng sẽ vọt lên trời như tên lửa và chiếu sáng rực rỡ trọn cả một vùng.”


Ngày 20 tháng Mười hai 1937


Cơn mưa tuyết nhẹ. Robert đứng không có áo choàng ở nhà ga, thế nhưng vẫn với một chiếc ô cuốn tròn lại như một cái xúc xích. Ông có vẻ không lạnh. Chúng tôi tản bộ xuyên St.Gallen và hướng vào “Gilge” nơi chúng tôi là những vị khách duy nhất.  Về sau Robert còn nói mãi về cô bồi bàn cao lớn với đôi mắt liếc ngang đã lướt qua ông sau lưng. “Chúng ta đáng ra nên ở lại đấy!”. Khi tôi trong bữa trưa ở “Marktplatz” nói với ông, cô bồi bàn giờ đang phục vụ chúng tôi còn xinh hơn nhiều, cô ấy có đôi chân thật đẹp, thì ông nói: với ông chẳng quan trọng. Ông quan sát tổng thể của một con người hơn cả là hình hài của người đó.

Trong một hiệu may sẵn chúng tôi thử nhiều bộ vest khác nhau cho Robert. Ông chủ cho rằng, ông ấy là cha của tôi. Quần áo may sẵn thế nhưng không vừa với ông cho lắm vì ông có một cái lưng hơi gù. Ông muốn một thứ “giản dị”, nhất định không gì nổi bật.” Vì việc lấy số đo và chạm vào người khiến ông cứ căng thẳng thêm và đầu của ông khởi sự chuyển sang màu đỏ, tôi cùng ông trốn ra ngoài mà chẳng mua gì cả.

Một gian nhà bia tối màu vùng Bayern. Bia đậm. Ông thích ở đây. Ông châm liên tục hết điếu “Parisienne” đến điếu khác. Ông hỏi tôi bằng một Ironie khô khan liệu tôi có kiếm được khá với Tuyển chọn- Walser “Große kleine Welt” được phát hành tại nhà xuất bản Rentsch không. Ông ca ngợi Wieland và Lessing, trong khi Matthias Claudius với ông quá ngây thơ. Ông nói: “Tôi chưa bao giờ ghen tị với các nhà kinh điển. Ngược lại thì với các nhà văn hàng thứ hai, nhất là với Wilhelm Raabe và Theodor Storm. Tôi cũng đã có thể làm được, những câu chuyện thật nhẹ nhàng kiểu bourgeois như họ. Sự ấm cúng thái quá ở Raabe khiến tôi khó chịu.” - Tôi: “Vậy là ông cũng ghen tị với Gottfried Keller ư?” - Robert, cười: “Không, đó chỉ là một con người Zürich thôi!”

Tôi kể với ông rằng ông sẽ nhận được từ ủy ban khuyến khích văn học vùng Bern một món quà danh dự. Điều này làm ông vui.


No comments:

Post a Comment