Ngày 23 tháng Tư 1939
Robert có hứng đi sang “phía Đức”, về hướng Meerburg. Buổi sáng mùa xuân man mát nhiều mây thực ra lại như dành cho một cuộc dạo bộ. Cuộc rảo bước tới Wil với tôi có hợp không ư. Tại sao không! Bầu không khí đồng điệu với tôi quan trọng hơn hướng đi.
Robert, như vẫn thường, có mang một chiếc ô bên mình; cái mũ của ông cứ ngày càng tồi tàn đi. Vành của nó tuyệt đối sờn. Ông thế nhưng không muốn một cái mới nào cả. Một cái Mới với ông là quá khiếp. Ông cũng không muốn đưa những cái răng đã hỏng của mình lại bình thường. Tất tật những điều đấy với ông thật khó chịu; tôi chẳng dám nói về chúng, dẫu cho người em gái thân thiết Lisa của ông đã nhờ tôi lo cả cho những điều này.
Chúng tôi đi con đường Herisau-Wil, nói chuyện suốt, trong ba giờ rưỡi đồng hồ. Như thể chúng tôi mang giày trượt patin vậy, chúng tôi cứ trượt nhẹ bổng về phía trước. Thi thoảng Robert nhắc tôi chú ý vào một cánh đồng thật đẹp hoặc những áng mây, những ngôi nhà lộng lẫy kiểu Baroc. Ông cũng để cho chụp ảnh chẳng cự nự gì. Tôi bất ngờ. Ông thấy buồn cười và vui rằng chúng tôi đã nhanh đến thế để lại sáu mươi kilomet phía sau, chỉ với một lần chia Vermouth như “xăng”. Trong quán ăn đầu tiên nơi chúng tôi ngồi xuống có hai người phụ nữ già khoặm và một người trẻ ngồi tại đó. Họ chăm chú nghe chương trình radio và khi chúng tôi rời đi, họ đã tới bàn của chúng tôi để bắt tay.
Wil. Chúng tôi ăn tại “Im Hof”, có cơn đói ngốn ngấu và sau đó quay vào một quán ăn từ một quán ăn khác. Trọn cả thì là năm. Robert gợi ý chúng tôi đừng về Goßau ngay từ ba rưỡi chiều. Mà là hai tiếng sau. Ông muốn ngày hôm nay chúng tôi ở cạnh nhau thật lâu có thể. Giờ đây ông hay nhìn vào tôi trong đôi mắt; cái xa cách và cộc lốc nơi phía sau chúng ông cứ thích đóng mình lại đã có chỗ của sự tin tưởng im lặng cho một người. Chuyến tàu của ông về Herisau khởi hành hai phút sau chuyến của tôi. Trong khoảnh khắc khi chuyến tàu của tôi khởi sự chuyển bánh, ông đã tuyệt đối nghiêm trang cúi người hai lần. Có phải ông nghĩ tới “Monsieur Robert”, người phục vụ trong lâu đài không? Giờ thì tôi cũng cúi người hai lần và gọi theo ông: “Lần tới sẽ trên nước Đức!”, thế rồi ông gật đầu hào hứng và cái mũ của ông lắc lư.
Ở đoạn đầu của cuộc đi bộ Robert kể với tôi câu chuyện một phiên tòa như sau: một vị luật sư ở London bị kiện bởi tình nghi đã giết vợ của ông. Dáng vẻ đầy tình yêu và lịch lãm của ông đã đón lõng các thẩm phán đến rằng một phán quyết có lợi cho ông đã được mong đợi. Thế nhưng người bị kiện lại có ý ngược hẳn lại. Ông ta quyết định cùng cô thư ký xinh đẹp, vì cô ta ông đã giết vợ mình, chạy trốn sang Mỹ. Ông bị bắt trên con tàu. Sự rối rắm của tình cảnh tâm lý này làm điên đảo ông luật sư. Vì lẽ cuộc trốn chạy này khiến các thẩm phán bán tín bán nghi. Họ cho xé toạc nền của căn bếp và thực sự tìm thấy cái xác đã bị chặt từng khúc. - Vậy là kẻ giết người đã tự cắt đầu mình. Giá như ông ta vẫn đóng tiếp vai của một người chồng đầy tình yêu thì hẳn lẽ ông sẽ được trắng án. Tính đạo đức: Người ta có thể lừa dối kẻ khác đấy, thế nhưng chẳng bao giờ có thể lừa dối chính mình được lâu.
“Khi tôi với một trăm Franken rời khỏi Berlin tới Biel năm 1913, tôi đã xem là đúng đắn khi hành xử thật mờ nhạt nhất có thể. Để ăn mừng thì thực sự chẳng có gì cả. Tôi hằng ngày và hằng đêm đều đi dạo một mình; trong khi ấy công việc viết lách tôi vẫn tiếp tục. Sau cùng, khi tôi đã ăn sạch tất tật các mô típ của mình như một con bò với cánh đồng cỏ của nó thì tôi dọn đến Bern. Cả ở đó ban đầu tôi cũng thấy rất tốt. Thế nhưng cậu tưởng tượng sự hoảng hốt của tôi xem, khi vào một ngày tôi nhận được từ ban biên tập phoi ơ tông của tờ “Berliner Tageblatts” một bức thư trong đó tôi được khuyên trong nửa năm đừng sáng tác gì hết! Tôi đã tuyệt vọng. Phải, đúng là tôi đã xong xuôi. Cháy xém như một cái lò. Tôi đã cố sức để tiếp tục viết mặc cho lời cảnh báo. Thế nhưng chỉ toàn những thứ tầm thường tôi tự bắt ép bản thân. Luôn luôn chỉ những thứ thoát ra từ chính tôi và những gì dường như tôi đã trải qua mới làm tôi thỏa mãn. Khi ấy tôi còn tiến hành vài lần thử vụng về để tự tử kia. Thế nhưng tôi còn chẳng thể thắt cái thòng lọng tử tế nổi một lần. Cuối cùng sự việc đi xa tới mức cô em gái Lisa của tôi đã đưa tôi vào trại tâm thần Waldau. Trước cổng vào tôi còn hỏi em ấy: “Chúng ta có đang làm điều đúng đắn chứ?” Sự im lặng của con bé đã nói đủ. Tôi còn lại gì chứ ngoài bước vào?”
“Thật là ngớ ngẩn và trơ trẽn khi đặt vào tôi đòi hỏi hãy sáng tác cả khi trong trại tâm thần. Nền tảng duy nhất một nhà thơ có thể đứng trên đó để sáng tác, là tự do. Chừng nào điều kiện này còn chưa được thực hiện, tôi từ chối lại tiếp tục viết. Việc người ta dành cho tôi một căn phòng, giấy và bút, chẳng liên quan gì hết.” - Tôi: “Tôi thấy rằng ông hoàn toàn chẳng mong muốn sự tự do này chút nào!” - Robert: “Chẳng một ai ở đây có thể trao nó cho tôi. Thế tức là chờ thôi.”- Tôi: “Ông thực sự có ham muốn rời khỏi viện tâm thần ư?” - Robert (ngần ngừ): “Có thể thử!” - Tôi: “Ông muốn sống ở đâu nhất?” - Robert: “Tại Biel, Bern hoặc Zürich- ở đâu cũng mặc! Cuộc đời có thể mê hoặc khắp mọi nơi.” - Tôi: “Ông thực sự sẽ lại khởi sự viết chứ?”- Robert: “Vào câu hỏi này thì chỉ có một: không trả lời nó.”
Trong những tháng vừa rồi Robert đã đọc với niềm vui thích cuốn “Spaziergang nach Syrakus” của Seume và tự truyện phiêu lưu của ông, “Romeo und Julia auf dem Dorfe” của Gottfried Keller cũng như Novelle “Goethe und Therese” của nhà thơ thiên nhiên vùng Bayern Martin Greif. Ông nó: “Người nghệ sĩ phải làm rung động khán giả hoặc hành hạ họ. Anh ta phải làm họ khóc hoặc cười.”
-Tôi kể với ông rằng một nhà phê bình Thụy Sỹ đã viết một tiểu thuyết thi thoảng được dựng kịch tại một nhà thổ Paris. Phản ứng của Robert: “Thật ghê rợn cảnh những kẻ viết bất tài đôi khi rơi vào!”
Về nhà nước: “Tôi thấy thật thiển cận khi quấy nhiễu nhà nước bằng những đòi hỏi mang tính đạo đức. Nhà nước, hơn hết, có nhiệm vụ phải vững mạnh và tỉnh táo. Đạo đức phải là việc của cá nhân.”
Tôi: “Chúng ta có nên bữa tối ăn thêm gì không?” Robert: “Để làm gì chứ? Gan bê và thịt chẳng thể làm tôi phấn chấn! Chúng ta thà uống thêm gì thì hơn! Đấy là điều khiến tôi thích. Tôi vẫn thường xuyên ăn uống đủ. Hằng ngày ấy. Còn uống thì sao? Tôi chỉ có thể làm với cậu!”
Ngày 10 tháng Chín 1940
Robert ngày càng bạc tóc hơn; ở gáy ông đã mọc lên cả nắm lông trắng như tuyết. Chúng tôi trước hết đã làm khỏe mình với bia và hai miếng Käswähe. Tôi gợi ý đi về hướng Teufen - vùng đất quê quán ông. Ông đồng ý và hỏi: “Trên đường làng ư?” - “Ừ, ông chẳng phải thích thế hơn ư? - Thế nhưng mà trời mưa to đấy, ông Walser ạ!” - “Vậy càng hay! Người ta không thể cứ luôn đi trong ánh sáng được.”
Chúng tôi khởi hành đi qua Hundwil và Stein. Trời trút mưa như từ một cái bình tưới. Có lúc chúng tôi đứng bên dưới một trạm chờ xe bus, ở đó một người phụ nữ già đang ngồi trên ghế băng, bà chưa bao giờ đi ô tô và tàu hỏa cả. Tôi trò chuyện với bà. Robert đứng không nói gì bên cạnh và hút “Parisiene” tôi đã mang theo cho ông.
Trên đường đi chúng tôi nói về gia đình đỡ đầu Reinhart ở Winterhur. Ám chỉ chuyện ấy, lát sau Robert nhắc: “Cậu hôm nay trông thật Reinhart lắm!” - Tôi: “Tại sao?” - Robert: “Rất ông chủ, hoàn toàn trịnh thượng. Có chút lạ lùng!” - “Buổi chiều tôi sẽ tới đám tang một người họ hàng ở St. Gallen.” - Robert, lạnh nhạt: “Bởi thế đấy.”
Trí nhớ của ông cho những sự kiện đã lùi rất xa thật đáng ngạc nhiên. Ông nhớ hàng tá cái tên và những điều rời rạc từ cuộc đời của Friedrich dem Großen, Napoleon, Goethe, Gottfried Keller và những người khác. Việc Keller vào ngày sinh nhật thứ bảy mươi của mình đã chọn Urschweiz làm nơi cư trú ông xem đó chẳng phải là một sự tình cờ. Theo bản năng ông ấy đã vào ngày này muốn ở gần trái tim đất nước ông. - Với việc thử viết bằng thổ ngữ, Robert Walser, ông chẳng thấy gì hay: “Tôi đã luôn cố tình không bao giờ viết bằng thổ ngữ. Tôi luôn thấy đó là một sự mơn chớn không phù hợp vào đám đông. Người nghệ sĩ phải giữ khoảng cách với họ. Họ phải tri cảm trước anh ta sự tôn trọng. Phải là một kẻ thô thiển lắm khi xây dựng tài năng của anh ta dựa vào việc muốn viết gần gũi người vùng mình hơn những kẻ khác. - Nhà văn về cơ bản nên cảm thấy có nghĩa vụ suy nghĩ và hành động cởi mở và cả hướng tới cái cao hơn.” Khi cuộc nói chuyện của chúng tôi đi vào Walter Hasenclever, người đã tự tử tại Pháp, Robert nhấn mạnh: “Người ta không trả thù sức mạnh của những ông bố lối không bị trừng phạt được. Vở kịch “Der Sohn” của Hasenclever tôi đã ngay từ lúc ở Berlin thấy nó như sự sỉ nhục dành cho tất tật các ông bố. Muốn chống lại những quy luật vĩnh cửu chính là một dấu hiệu của sự non nớt tinh thần. Người ta còn gây rủi ro vào lúc họ trả thù.”
Robert lấy làm khâm phục các nhà độc tài ở bản năng chắc chắn dành cho ý nghĩa tối thượng của nhà nước. Sự tàn bạo của họ là trời ban, chỉ nó mới tạo cơ hội cho họ đánh bại: “Bởi lẽ những nhà độc tài gần như luôn vươn lên từ những tầng lớp dân thấp kém nhất nên họ biết rất rõ dân chúng thèm muốn điều gì. Bằng cách lấp đầy những mong muốn của dân chúng thì cũng cả của các nhà độc tài. - Dân chúng thích rằng người ta làm điều gì đó cho mình, rằng người ta lúc thì thân ái tình cha lúc lại nghiêm khắc. Chính thế người ta thậm chí có thể chiếm được họ cho các cuộc chiến.”
“Cậu có để ý không, mỗi nhà xuất bản đều chỉ thịnh vượng trong một niên đại nhất định? Nhà in Frobenius và Froschauer ở thời trung cổ; Cotto ở thời tư sản chớm nở, các ông nhà Cassirer trong niềm vui rộn ràng của giai đoạn tiền chiến, Sami Fischer trong nước Đức bị thít họng bởi chế độ vương quyền, Ernst Rowohlt táo bạo trong thời kỳ nước sôi lửa bỏng hậu chiến. Mỗi người đều có bầu không khí họ cần cho doanh nghiệp của mình và ở đó họ kiếm đẫm.”
Ở viện điều dưỡng người ta đã đặt cho ông một đề nghị viết tặng ông bác sĩ Otto Hinrichsen vào sinh nhật thứ bảy mươi của người này một bài thơ. “Thế nhưng mà sao tôi tới được cái việc đó chứ? Một thứ như thế người ta tốt nhất là tự sản xuất như J. V. Widmann ấy, và nhất là đầy hài hước chế giễu. Cậu đọc lại ở Goethe và Mörike ấy! Ở đó người ta có thể học cách cười một cách châm biếm!”
Sau ba giờ đồng hồ chúng tôi đã đến được Teufen và ngồi xuống khoan khoái trong của hàng thịt bên món thịt, đỗ và khoai tây xào. Trong những loại rượu vang vùng đông thụy sĩ thì Robert thích Fendant hơn cả. Bên tách cà phê đen chúng tôi nói chuyện về viện điều dưỡng. Tôi: “Ông chưa bao giờ để ý ư, rằng phần lớn đàn ông và phụ nữ không kết hôn lại có một đứt gãy tinh thần không? Có thể khoái cảm bị xô đẩy của họ tác động chẳng tốt đẹp lên tâm trí chăng? Ông hãy nghĩ đến Hölderlin, Nietzsche hay Heinrich Leuthold xem!” - Robert, ngần ngừ: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Có thể cậu đúng!- Thiếu tình yêu con người lạc lối.”
No comments:
Post a Comment