Friday, June 5, 2026

Ngày 16 tháng Năm 1943

lời chào của tôi với sự xuất hiện trong tiếng Việt những gì lộng lẫy nhất của Walser sẽ dừng lại ở cuộc dạo bộ cuối cùng của năm 1945, ngày 30 tháng Mười hai. Mười năm sau đó nhà văn viết ra những câu chữ như bông tuyết ấy đã rời khỏi cuộc đời, cũng nhẹ bẫng như chính văn chương của ông. 
Ở Walser có rất nhiều rung cảm nhưng nếu nghĩ trong đó là những trau chuốt khéo léo thì nhầm to. 

Có một số người thường xuyên ghé vào đây đọc. Tôi nghĩ, quá nửa là những người từng gặp tôi ngoài đời, và phần lớn trong số đó là bạn bè tôi, phần còn lại, nhỏ thôi, là vô tình lướt qua. Mưu cầu danh vọng tiếng tăm thì chẳng mất thời gian ngồi gõ lạch cạch thế này làm gì. Đâu phải như gần hai mươi năm trước, thời nở rộ của 360, blogspot và wordpress. Gắn link, seeding và cả tặng sách để viết review, tất tật đều rất rửng mỡ. Tôi vừa nghĩ ra một cái tên rất hợp để đổi: Der Mann ohne alles.

Ngày 16 tháng Năm 1943 

Vào sinh nhật thứ sáu mươi lăm của Robert chúng tôi đã hẹn lần tới đi xuyên vùng Ricken cho tới tận Rapperswil. Bởi lẽ đó tôi đã mang sẵn theo vé tàu trong túi, lúc tôi, vào buổi sáng tám giờ nói với ông tại nhà ga Herisau: “Hôm nay sẽ đi xuyên ngọn Ricken nhé!” ông hoảng hốt phản đối: “Không, không, để làm gì?” Tôi từng bị tống khứ vào vùng đông Thụy sĩ và đã ở lại đây. Lẽ gì lại ăn Forelle ở Rapperswil khi chúng ta có thể có Speck tại Appenzellerland chứ?” Tôi bỏ cuộc và nói, ông hãy tự quyết hành trình đi. “Chúng ta đi hướng Peterzell, cậu chắc chắn sẽ thích!” ông đề nghị. - “Tại sao không?” và chúng tôi sải ngay những bước đi dài. “Sáng nay tôi vui lắm”, Robert tuyệt đối phấn chấn, “cái lúc tôi trông thấy mây thay vì một bầu trời xanh! Tôi chả màng gì cảnh quan tuyệt mĩ và những chuyện phía sau. Nơi nào cái xa xôi biến mất ở đó cái gần gũi sát lại dịu dàng. Chúng ta cần gì hơn ngoài một đồng cỏ, một khu rừng và một vài ngôi nhà bình yên để thỏa mãn cơ chứ? - Thêm nữa, từ giờ cậu hãy đến vào chủ nhật nhé, nếu cậu có thể! Từ khi tôi không còn làm công việc viết lách, tôi không được phép cho mình cái xa xỉ đi dạo vào một ngày làm việc. Điều này đem tới một mất trật tự vào trật tự của viện. Cũng thật dễ chịu khi nhìn thế giới như một món quà chủ nhật.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, trên đường đi ông khởi sự tự kể về thời gian trong bệnh viện của ông: “Tôi khá thích ở trong phòng bệnh. Người ta nằm đấy như một cái cây bị đốn và chẳng cần cử động một chi nào cả. Tất tật mong muốn đều ngủ thiếp đi như một đứa trẻ mệt rũ sau cuộc chơi. Người ta thấy giống như ở trong một tu viện hay như trong tiền sảnh trước cái chết. Phẫu thuật tôi để làm gì chứ? Tôi thế này là ổn. Chỉ lúc nào các bệnh nhân khác nhận được đồ ăn còn tôi thì không, lúc ấy tôi sẽ trở nên tức tối một chút. Thế nhưng cả đến cảm giác này cũng dần dần nhạt nhòa đi. - Tôi cho rằng, Hölderlin ba mươi năm cuối của cuộc đời ông đã chẳng bất hạnh như các ông giáo sư văn học vẽ ra đâu. Có thể mơ trong một góc kín đáo chẳng cần lấp đầy những đòi hỏi triền miên, đấy nhất định không phải là tuẫn tiết. Người ta chỉ tưởng tượng thế thôi!”
Xuyên qua Schwellbrunn chúng tôi sải bước về hướng St. Peterzell của những nhà thờ và tòa tu viện từ năm 1722 làm Robert Walser sững sờ. Chúng tôi gọi Bratwurst và Schnitzel thịt bê, Tiroler nhẹ uống kèm và tiếp cả bánh ngọt nữa. Trong suốt bữa ăn Robert đã phấn khích gần như nửa giờ đồng hồ về nhận định của tôi rằng một nhà văn nữ đồng nghiệp trong thời gian học đại học đã có một cuộc tình bất hạnh và gần như đã hủy hoại bản thân mình: “Cái con bé ấy! Cô ta phải để bị tổn thương  bởi một thằng khốn và làm cơ sự bất hạnh bé xíu này vang ầm lên ư? Thật là một hành động dại dột đích thực. Con ngỗng văn chương màu mỡ này hẳn phải thành thánh mẫu thi ca ấy!”

Dưới vòm trời khói xám - mây mù kéo đến, chẳng ai bắt gặp chúng tôi cả, Robert ngày một cởi mở hơn - ông kể với tôi: “Vị trí kế toán của tôi tại Wädenswil bắt đầu khoảng từ mùa hè 1903 đến đầu tháng Một 1904 chính là hình mẫu cho tiểu thuyết “Der Gehülfe” như là tôi đã viết lại ở Berlin theo trí nhớ. Vị trí này tôi nhận được thông qua văn phòng việc làm cho người thất nghiệp ở Zürich, tại đó tôi đã làm việc một thời gian dài ở ngân hàng Kanton sau giai đoạn Wädenswil. Max Liebermann nói với tôi về “Gehülfe” thế này, nó chán ngấy. Ngược lại, ông thích “Jakob von Gunten”, tôi đã gom nhặt những quan sát của mình khi tôi còn là học sinh của một học viện có nhiều điểm tương đồng với học viện được miêu tả trong tiểu thuyết. Rằng tác phẩm đầu tay “Fritz Kochers Aufsätze” của tôi ngay sau khi xuất hiện tại nhà xuất bản Insel đã bán rẻ bèo ở trung tâm thương mại phía Tây Berlin, chuyện này nhà xuất bản sau này của tôi, Bruno Cassirer, đã cứ hay giễu tôi lối hả hê. Dẫu thế ông ấy vẫn xuất bản tập thơ đầu tiên của tôi với minh họa của Kari. Otto von Greyerz khi ấy ở tờ “Bund” đã vùi dập tôi khủng khiếp vì giọng văn của tôi, những người ngồi cùng tôi ở Biel tại quán “Blauen Kreuz” đã tuyệt đối trắng bệch khi họ kể cho tôi về sự chê bai này. - Người Zürich ư? Họ hoàn toàn chẳng đoái hoài gì những bài thơ của tôi. Hồi ấy tất tật họ hẵng còn bơi trong niềm say mê dành cho Hesse. Họ để tôi lặng lẽ trôi tuột xuống cái bướu của ông ấy.

Cuộc chuyện trò của chúng tôi nói đến cả “Geschwister Tanner” được Robert kể thế này: “Tôi đã viết nó ở Berlin trong vòng ba hay bốn tuần gì đó, không sửa. Một vài đoạn Bruno Cassierer thấy quá chán đã bị ông gạch bỏ, đó là chương Simon tìm thấy trong lò sưởi bản thảo của một người chạy việc. Đoạn này về sau xuất hiện trong tạp chí “März” do Hermann Hesse đồng chủ biên. Ông bác sĩ Dr. Hinrichsen đáng kính ngời ngời, người tự xem mình là một nhà thơ có tiếng, từng nói với tôi về tiểu thuyết này: “Những trang đầu tốt thế nhưng phần còn lại: không cứu chữa nổi!” Ông ấy nói thế, như thể ông ấy sẽ chết ngạt nếu buộc phải đọc nó đến cuối.” Robert cười sảng khoái trong cái thuật lại này. Tôi nhấn mạnh, ông đã đúng ra sao, Simon đã sống trong cái nghèo, sự đơn giản và tự do thế nào, và những kẻ sáng tạo đã cư xử sai thế nào khi họ tạo ra những thỏa hiệp vì lợi ích sự tồn tại vật chất. Ông gật đầu hăng hái và sau một thoáng im lặng đáp với vẻ nghiêm túc: “Ừ, thế nhưng thường đó là một hành trình từ thất bại này sang thất bại khác, nhìn từ bên ngoài!”

Ở gần Waldstatt Robert nhắc: “Nhà văn thiếu nhân cách xứng đáng bị đánh bầm dập. Họ phạm tội chống lại nghề nghiệp của họ. Hình phạt chính là Hitler đã xông vào họ. Với văn chương hiện đại nâng đỡ tinh thần, người ta chẳng thể kiệm nổi cáo buộc rằng chúng tỏ ra kém mềm mại, ngạo mạn và phồng tướng lên. Tôi tuyệt đối cho rằng, những quyển sách thực sự tốt hoàn toàn có thể được đưa cho bất cứ người đọc nào vào tay họ. Những người ngoan đạo cũng như với những quý bà độc thân luống tuổi. Thế nhưng bao nhiêu sản phẩm trong số những văn chương giả tưởng ngày nay có thể được chứng minh chứ? - Cậu xem, người ta lúc nào cũng chê bai Marlitt! Đấy là những ông thầy có chức tước, vô lý và hẹp hòi. Mới đây tôi có đọc tạp chí cũ “Im Hause des Kommerzienrats” và buộc phải nói, tinh thần tự chủ, sự hiểu biết của bà về những biến chuyển xã hội học và xã hội đã khiến tôi ấn tượng. Trong những cuốn sách như thể người ta hay tìm thấy nhiều khéo léo và xúc cảm hơn là trong những món ăn chương ăn sẵn ẵm giải thưởng. Nhưng cậu có biết một Marlitt tên thực là Eugenie John và không chỉ được tôn lên bởi các độc giả nữ của “Gartenlaube” không? Có thể bà ấy là một quý bà hơi màu mè một chút và hơi tin quá vào sự tiến bộ; thế nhưng một số những “người nổi tiếng” ngày nay có thể phải đố kỵ với bà về trí tưởng tượng và tinh thần khai phóng. Vào giữa thế kỷ mười chín bà hình như là một ca sĩ tài năng. Sau đó bà bị bệnh nặng và đã viết gần như tất cả những quyển sách của mình trên giường: “Goldelse”, “Das Geheimnis der alten Mamsell” và “Die Frau mit den Karfunkelsteinen”. Tôi có nhầm không nếu tôi gọi bà là người phụ nữ Đức đấu tranh cho quyền phụ nữ đầu tiên đã nhất quán chống lại sự kiêu ngạo giai cấp và lòng mộ đạo kiêu căng? Cả J. V. Widmann cũng ngả mũ kính cẩn trước bà và hay kể về một đám cưới nông dân vùng thung lũng Emmental diễn ra trên đỉnh Schänzli tại Bern đã chẳng một chút giễu cợt nào cụng ly vì sức khỏe của Marlitt.”
Một vài châm ngôn từ cuộc bộ hành được khép lại trong hai gian bia của Herisau:

“Những người lịch thiệp thường đầy mánh khóe.”

“Chỉ thông qua sai lầm thì con người mới nhận được màu sắc tính cách thú vị. - Cái ác ở đó để tạo ra tương phản và để mang sự sống vào thế giới.”
“Không một nhà văn nào có nghĩa vụ với sự hoàn hảo. Người ta vẫn thích anh ta  với tất tật tính con người và cái lập dị!” Đây là trong một cuộc đối thoại về Titan của Jean Paul, phong cách tựa cây thường xuân của nó khiến Robert Walser say mê.

“Bản chất sáng tạo là không thể đoán định. Điều này phân biệt chúng khỏi các bắt chước.”




Ngày 27 tháng Bảy 1943


Khuôn mặt Robert gầy rộc, đỏ sậm. Bộ veste màu xanh ô liu đã rách, gấu quần xắn lên, vết vá ở viền cổ áo, bên tay là chiếc ô không thể bỏ qua, về nó lúc chào tôi ông nói: “Nó cũng muốn đi dạo bộ - hơn thế nữa những cái ô kéo về đây thời tiết tốt đấy!”

Chúng tôi đón chuyến tàu từ St. Gallen tới Altstätten, tán chuyện vu vơ trong suốt chuyến đi và châm hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Robert nhìn theo những đám mây chạy mất: “Mây là thứ tôi thích. Chúng trông thật thân thiện, hệt như một người bạn tốt, trầm lặng. Bầu trời cũng bởi chúng mà sinh động hơn- con người hơn.”
Bữa sáng đầy đặn tại quán ăn nhà ga của St. Margrethen vì Robert đã đề nghị ngay trên tàu: “Chúng ta không nên ăn chút gì sao? Một bữa ăn vào buổi sáng lúc này hẳn rất hợp!” Chúng tôi là những vị khách duy nhất. Một cô bồi bàn béo, nhỏ người phục vụ chúng tôi, gần như bị xúc phạm khi chúng tôi quấy rầy khi bên bữa sáng của cô; đầy tham lam với những tem phiếu. Robert ăn rất nhanh, món mứt lấy luôn từ hộp. Lớp vỏ bánh mỳ ông nhúng vào cà phê. Chúng tôi khởi sự cuộc dạo chơi trên con đường Heerstraße trải nhựa, gần như hoàn toàn vắng người. Mười ba kilomet cho tới Altstätten với chúng tôi như một cú mèo nhảy. Robert nhắc tôi rằng Appenzell giống như một hòn đảo được ôm bởi Kanton St. Gallen. Nếu ông phát hiện một nhà hàng ấm cúng, một ngôi nhà nông dân lộng lẫy hoặc một nhà thờ có hai căn tháp ba rốc hình củ hành thì ông đứng im lẩm bẩm: “ Thật đẹp- thật duyên dáng!” Ông như bị say bởi khung cảnh đồi núi, bởi sự yên tĩnh hân hoan của ngày chủ nhật. “Thật sảng khoái, như thể người ta đặt đôi tay nặng nề vụng về của mình vào giấc ngủ trong một tòa lâu đài và trao lại tất tật cho tự nhiên!” - Gần như ở ngôi làng nào cũng thế, ông đều chống lại thói quen của mình mà hỏi một người đạp xe ngang qua hoặc một nông dân mặc áo cộc đứng trong vườn của anh ta: “Ngôi làng tên là gì? Còn ngọn đồi này? Ông làm hệt như một người lang thang, chẳng dừng lại lâu trong lúc bước tiếp, cũng chẳng đợi một câu trả lời. Ngọn Au, Heerbrugg, Balgach hiện ra; tít phía trên đỉnh đồi, nhà hàng toàn cảnh Meldegg trỏ mắt xuống. Chúng tôi nghĩ suốt một phút liệu chúng tôi sau khi như đã ở trong khu vườn hoa trái trong mơ của Berneck liệu có nên đổi hướng đi để qua Reute  về phía Heiden hay không. Robert nói: “Người ta chẳng thể cùng lúc có cái bên trên và bên dưới! Chúng ta hãy cất đi một vài ham muốn! Cũng thật tuyệt khi nghĩ về chúng vào những ngày thường.”

Một sự cố gắng lớn ở Marbach, nằm ở hân hoan, để trèo lên một lâu đài ngự trên một đồi nho và để dùng bữa tại đó. Ấy thế Robert lại gợi ý, cho đến tận Altstätten hãy kháng cự lại tất tật thèm muốn một cách anh hùng: “Nhờ chiến thuật của từ bỏ này chúng ta xứng đáng tận hưởng bữa ăn! Là rộn rực đấy khi cái bụng xẹp như một quả bong bóng rỗng.” Một cô bé xinh xắn đạp xe ngang qua. Chiếc váy phấp phới để lộ cặp đùi. “Thật là một cảnh đáng yêu làm sao, một đôi chân thiếu nữ như thế”, ông cười. “Bài thơ thuần khiết nhất-”, và lúc tôi nhìn thấy ông cười, ông còn nói thêm: “Chẳng cần người ta phải nghĩ đến thứ gì đó tối tăm cả.”

Từ một nhà thờ chúng tôi nghe giáo xứ hát “Đức Chúa tối cao, chúng con ngợi ca Người!”. Robert nói vào: “Nghe thế nhưng vô hồn, như chiêu dân ấy. - Nếu đức Chúa đáng kính không nhận được lời ngợi ca ấm áp nào hơn thế này thì Ngài ấy hẳn thật đáng thương.”

Sự tình cờ đáng kinh ngạc: Tôi kể cho ông, người anh Karl của ông đã kể lại cho tôi, một ai đó đã đề nghị Cassirer hãy để các bài thơ của Robert và Christian Morgenstein được vẽ minh họa bởi Paul Klee. Morgenstern, khi ấy là biên tập của nhà xuất bản Cassier, đã từ chối lời đề nghị vì ông thấy Klee quá đạo mạo. Chưa đến một phút sau khi tôi nói ra từ “Paul Klee”, chúng tôi đi ngang qua một cửa sổ bày hàng ở Balgach, trên biển quảng cáo của nó là: Paul Klee - Schnitzer für Holzleuchter.

Vài quầy hàng hội chợ sáng chói trên quảng trường làng ở Marbach, một vòng quay ngựa gỗ và những gian hàng di động, ngồi bành ra phía sau chúng như thể họ đang nghỉ ngơi tại nhà trong căn phòng của mình là những người bán hàng. Lũ ong bâu kín lấy món đồ ngọt của họ. Tôi hỏi một người phụ nữ: “Chúng cần đến tất cả tem phiếu nhỉ?” rồi bà gật đầu và đáp khá lo lắng, giống như một người mẹ buộc phải từ chối đứa con một mong muốn: “Điều tốt là, ừ đúng - Chúa muốn như vậy!” Lúc chúng tôi bước tiếp, Robert nói: “Chẳng phải đó là cái cốt của cuộc sống ư, đầy màu sắc và chẳng làm hại ai? Những cái khăn choàng đầu rực rỡ này, quả chuỗi ngọc rực lửa, món kẹo màu đỏ si rúp, đấy là những gì người dân thích! Truyền thống cũ không bao giờ chết đâu. Như một cuộc gọi dịu dàng từ thuở niên thiếu nó sẽ cứ luôn luôn quay trở lại.”
Tại Altstätten chúng tôi lần đầu tiên thử ở quán “Restaurant zum Heimatmuseum”. Cả hai chúng tôi đều khấp khểnh sau hành trình nóng rực. Vài sĩ quan và hạ sĩ đang chán chường ngồi trong khu vườn râm mát. Không có một dân thường nào cả. Bà chủ nói, họ chẳng thể mang cho chúng tôi thứ gì khác ngoài Fleischkäse và món sa lát khoai tây. Dẫu thế chúng tôi đã ngon miệng trong bữa ăn ngày chủ nhật rất đàng hoàng. Thế rồi tiếp tục tới “Klosterbau” thôi! Hai người đàn ông lớn tuổi với món nước ép lên men; trên tường là Chúa cứu thế bị đóng đinh. Ông chủ loẹt xoẹt đi qua. Ông muốn hỏi trong bếp liệu có gì để móc ra không. Rồi ông gọi vói: “Sẽ có người ra ngay”. Sau mười lăm phút chúng tôi đã gọi Vermouth, trả tiền và chuồn đi mất. Chẳng ai tới để cho chúng tôi biết gì đó về đồ ăn cả. Lần thử thứ ba tại “Frauenhof”, một tòa nhà đẹp, cổ kính. Tại đây chúng tôi ngồi trong vườn. Song Robert chợt bồn chồn, một vài đốm nắng nhảy múa trên bàn của chúng tôi: “Chúng ta nên đi vào bóng râm thì hơn!” Món súp bánh kếp mặn, Schnitzel, cải bi xen và đậu Hà Lan, khoai tây, bánh ngọt cùng sốt vani. Bữa tiệc thịnh soạn nghi ngút, nó đã khơi ở Robert lời nhận xét: “Hơi ấm nên lạnh hơn và cái lạnh nên ấm hơn.” Chúng tôi thưởng thức tất tật và uống thêm cả món Neuchateler với mùi hoa cỏ khiến Robert thích.

Quay về Marbach trong cái nóng đỏ lửa để ngắm chợ phiên thêm một lần nữa. Chúng tôi bước vào một nhà hàng cạnh nó một vòng quay ngựa gỗ đang chuyển bánh, chúng tôi uống cà phê, nước ép lên men và bia. Tiếng của những người gọi í ới, tiếng cọt kẹt của vòng quay ngựa gỗ, tiếng la ó của “Billigen Jakob” rơi lối đầy màu sắc vào chúng tôi trong nhà hàng. Qua cửa sổ chúng tôi thấy những cái đầu trẻ con cạo ngắn, những cái sọ đàn ông màu đỏ cà chua, những đứa bé gái cười khúc khích. Robert thấy được bao bọc trong tiếng ầm ĩ và cân bằng cũng như ông thường tìm đến sự yên tĩnh. Chúng tôi bắt chuyến Trolleybus về Heerbrugg, ông thấy điều này thật xa xỉ. Một thằng bé đang vá trên đường chiếc lốp xe đạp bị hỏng của người bạn gái đi cùng, Robert nói vào: “Những kẻ Thơ của ngày nay!”

Rượu đã cuốn phăng những kìm nén cuối cùng của ông: Nhớ về một linh mục từ thời niên thiếu của mình, ông nói: “Ông ta là một gã lợn cứ chạy theo đàn bà!” Ông cười nắc nẻ. Ở Heerstrasse trong một khu vườn tôi chúng tôi lại gọi bia. Chúng tôi nói về một thầy giáo đã xuất bản nhiều Sonate. Sự việc này với Robert đã trở thành căn nguyên cho một sảng khoái đầy hưng phấn, trong lúc ông cứ giật lấy cánh tay tôi và đấm bùm bụp bởi thích thú: “Cái gã ranh đấy viết Sonata theo kiểu Graf von Platen! Kỳ diệu thật, đôi khi con người đần độn như thế nào. Một vị thầy giáo muốn sản sinh ra cái cổ điển và bởi thế khiến mình trở thành trò cười trước thế giới. Ông ta nghĩ ông ta là Gottfried Keller chắc? Người này ấy thế đã hiểu độc đáo làm sao để mà kết nối cái cao cả với cái chung, cái dân chủ và qua đó mà hóa con người! Thế nhưng cái vị thầy giáo này và các Sonata của ông ta …. ! Cậu từng thấy trò hề thế này chưa?”
Suốt chuyến tàu quay về chúng tôi cứ từ bến này tới bến khác ngày một im lặng hơn. Chỉ một lần, chỉ vào chỏm rừng cao, Robert thì thầm: “Không phải chúng ta trở về giàu có hơn ư? - Không phải là một ngày tuyệt đẹp sao?” Tôi còn nhét thêm một chút vào túi của ông. Lúc tạm biệt khuôn mặt buồn rầu của ông khiến tôi bất chợt giật mình. Cái nắm tay dài này -,

Một vài chủ đề cuộc chuyện trò của chủ nhật:

“Những bài thơ đầu tiên tôi đã hoàn thành như chúng đã hiện ra là vậy, khi là chân chạy việc trên Zürichberg, thường xuyên chết cóng, đói và sống thu mình như một thầy tu. Cả sau này tôi cũng vẫn viết thơ, đặc biệt ở Biel và Bern. Ừ, cả trong trại tâm thần Waldau nơi tôi đã sản xuất gần trăm bài thơ. Thế nhưng các tờ báo Đức chẳng muốn biết gì hết về chúng. Có người nhận đăng chúng ở tờ “Prager Presse” và “Prager Tagblatt”, ở chỗ Otto Pick và ông bạn Max Brod của cậu. Có lúc Kurt Wolff cũng in một vài vần thơ của tôi trong mấy quyển sách thường niên của ông ấy.” Tôi nói với ông sự ưa thích dành cho ông tại Prag cũng có cả công của Franz Kafka; Kafka là một người sành những xúc cảm Berlin của ông và của “Jakob von Gunten”. Thế nhưng Robert xua tay; ông chẳng biết chút nào các tác phẩm của Kafka.

“Ở Stuttgart tôi đã viết gửi tới giám đốc nhà hát thành phố một bức thư độc đáo rằng ông ấy có thể một đôi lúc cho tôi tấm vé miễn phí không. Ông ấy gọi tôi tới, xem xét tôi một phần (tôi còn chưa xuất bản gì hết cả) và bày ra nghĩa vụ quý tộc sẽ trao cho tôi chỗ trống suốt của mùa năm đấy.” - “Điều đó nhất định là nhờ chữ viết tay tuyệt đẹp kiểu thư pháp của ông đấy nhỉ?” - “Có thể lắm. Nó đã hay đem lại cho tôi lợi thế tuyệt vời. Ngay từ khi còn là học sinh trung học tôi đã nổi tiếng bởi nó.”
“Der Gehülfe” là một tiểu thuyết hoàn toàn thực. Tôi gần như không cần phải sáng tạo thêm gì nữa cả. Cuộc đời đã lo sẵn cho tôi rồi.” Suy đoán của tôi rằng ông đã phải lòng bà vợ ông kỹ sư Tobler thì ông không cho là phải: “Với tôi tất thảy yếu tố yêu đương đều nằm rất xa ở cuốn tiểu thuyết này.” Ông kể về một thương nhân A. buôn bán tranh ông đã quen ở Biel và người này đã kiếm được một gia tài khổng lồ ở Berlin nhưng cũng tức thì lại thua sạch. Khi Robert còn là chân chạy việc ở Zürich ông hay có dịp gặp A. và người bạn gái Maria Slavona của ông ấy, một nữ họa sĩ trường phái ấn tượng tiếng tăm, từng là học sinh của Karl Stauffer-Bern. Ông tả lại một buổi tối họ đang ngồi cùng nhau trên một ghế băng ở hồ Zürich; ông đã ngay lúc ấy trầm trồ đôi bàn chân mỏng manh của Slavona mập mạp. - Ông cũng nhắc qua mối quan hệ quen biết với họa sĩ Ernst Morgenthaler có cô hầu gái Hedi với bím tóc vàng mà Robert trót say mê. Về sau ông vẫn hay viết thư cho cô. Cô ấy đã tươi trẻ và thật ngây thơ. Những người bạn thân thiết cũ từ Biel là nhà điêu khắc Hermann Hubacher và vợ của ông; tại nhà nghỉ của họ ở Faulensee gần Spiez Robert đã thư giãn như một con ngựa cạnh cái máng ăn những lúc ông hỏa tốc từ Bern tới Thun và đi tiếp.
Ông thuật lại tường tận một chuyến đi khinh khí cầu ông được nhà xuất bản Paul Cassirer mời trước thế chiến thứ nhất. Họ trèo lên khinh khí cầu ở Bitterfeld lúc trời chập tối, được trang bị bằng món thịt cốt lét nguội và đồ uống, bồng bềnh suốt đêm yên ắng qua mặt đất thiu ngủ và hạ cánh vào ngày hôm sau ở Ostsee. Về chuyến đi lênh đênh này ông đã viết một phoi ơ tông ngắn. Ông ấy là một người lạ lùng, Paul Cassirer ấy, một lẫn lộn giữa ham muốn hưởng thụ và hoài niệm, ở các bữa tiệc của mình ông xem anh em nhà Walser như những cái miệng khổng lồ.

Chúng tôi nói nhiều về Nestroy. Robert chăm chú nghe khi tôi kể người này năm 1855 đã gửi một bức thư tới một sắc đẹp vô danh tại Wien, trong bức thư ông thổ lộ, ông đã choáng ngợp bởi cái dáng vẻ của nàng ở một nhà hát, rằng ông muốn nàng làm đối tượng cho những ước muốn rực rỡ nhất của ông. Tiếc rằng ông ngồi cạnh vợ mình như một kẻ lép vế trong hôn nhân, khiến ông chẳng thể tiến gần phía nàng. Ông đã gửi một gã hầu theo nàng, để biết nàng sống ở đâu, tên nàng là gì. Rồi ông dâng mình cho nàng như một người bạn kín đáo cả trong trường hợp nàng đã đính hôn rồi; một người bạn bí mật cũng có thể hữu ích cả sau tuần trăng mật chứ. Ông thấy việc tìm cách để nói chuyện trực tiếp với nàng tầm thường quá, nên ông gợi ý một giải pháp: Vào một ngày cố định lúc một giờ rưỡi trưa cả hai bên cùng đi dọc Prater-Hauptallee trên một chiếc xe ngựa từ hai hướng ngược nhau để họ nhất định gặp nhau trên đường, khả dĩ là gần Rondeaus. Để Nestroy nhận ra cỗ xe của Người đẹp từ xa, nàng hãy vẫy chiếc khăn tay ở cửa bên phải. Đó là tín hiệu nàng xem ông xứng đáng với mối tình bí mật. Chính ông cũng sẽ, để dễ nhìn thấy ở đại lộ này, vận chiếc áo dạ màu xám nhạt viền đỏ tươi và vào ngày hôm đó dùng tín hiệu chiếc khăn tay để trong những bước tiếp theo gắn chặt tình bạn được mong mỏi. - Sau miêu tả này Robert chỉ trích tường tỏ về cái lịch lãm của thế hệ trước. Dẫu thế ông thấy, trong chuyện lá thư này Nestroy đã quá vội vàng khiến bị nhìn tỏ cái lố bịch và qua đó tự dưng hiện lên như một người chẳng kinh nghiệm yêu đương và cũng cả thô lỗ nữa. Bởi lẽ “phụ nữ trong tình yêu, nếu họ không phải là điếm, họ muốn được tôn trọng nghiêm túc. Cũng qua việc Nestroy tự gọi mình là kẻ yếu thế trong hôn nhân, ông ấy đã cho thấy quá ít tinh tế. Người lạ kia hẳn sẽ nghĩ: một người chồng thiếu ga lăng như thế mình cũng chẳng muốn có làm bạn!” - Tôi: “Ông có biết những bức thư đầy thù hằn Nestroy đã ném vào nhà phê bình Saphir cao ngạo không? Một trong các bức thư ông ấy đã đáp lại mũi tên chỉ trích của Saphir rằng trong vở hài kịch “Der Schützling” của Nestroy chỉ có đúng bốn ý tưởng buồn cười và đó đều là của Saphir, chẳng phải kém ác ý, nếu ông ấy thực sự thấy cần phải ăn trộm chuyện cười lạ, thì chắc chắn sẽ không làm với Saphir đâu. Tại sao ăn cắp chúng từ kẻ thứ ba nếu tốt hơn là lấy từ kẻ thứ hai chứ?” Robert nói: “Những cáo buộc đạo văn phần lớn xuất khởi từ những đố kỵ vô trùng nhất định phải đầy ca thán được gom góp lại từ người khác điều chính họ cũng thất bại. Tại sao sự tài năng lại không được phép phục vụ những ý tưởng xa lạ nào chứ? Bằng cách tài năng chơi đùa cùng chúng thì thường nó mới có ý nghĩa đầu tiên, hình thức và cuộc đời. Trong những trò chơi với ý tưởng thì Nestroy là bậc thầy tung hứng. Cậu có nhớ câu trong một vở kịch rằng: “Dân chúng là một kẻ khổng lồ nằm trên cân, nó tỉnh dậy, loạng choạng, dẫm lên tất tật và cuối cùng ngã xuống ở chỗ nó còn nằm tệ hơn là trên cái cân?” Những hình ảnh phổ biến nằm ở chỗ ông ta dày đặc như cà rốt trong vườn rau.” - Tôi: “Ông biết không, Nestroy là một cái miệng Phổ cuồng tín đã từ trên sân khấu đại diện cho ý tưởng nước Áo phải rũ bay Phổ?” - Robert: “Phải, các nhà văn thường hay có những cái vòi dài bí ẩn mà bằng chúng họ cảm nhận trước tương lai. Họ ngửi thấy những sự kiện sắp tới hệt như lũ lợn với món nấm.”


No comments:

Post a Comment