Cái tủ ấy vì thấp và có chỗ để đồ ở trên với viền mây; nó đích xác phải từng là một cái commode rất điệu, mà được kê ngay dưới bàn thờ. Hồi bé tôi nhét vào đó rặt toàn truyện tranh. Những trưa hè oi nực, ngồi bệt tựa lưng vào cảnh tủ, tôi cứ ngửa cổ ra nhìn bát hương, nhìn hoa và quả sáng mẹ tôi mua mang về, và nhất là cuộn khói bay thẳng lên trần nhà đã gắn một tấm nhôm. Tôi cứ nhìn mãi vết hằn của khói, của hương, của những lời khấn, của cả những ý nghĩ không thốt ra thành lời khi mọi người bắc ghế đứng sát cạnh đây gửi vào. Vòng khói hương trên trần đậm lên, lan rộng ra. Bàn thờ ngày ấy chỉ thờ tổ tiên thổ công thổ địa không tên không hình hài. Sau này nó đã thành một bàn thờ có chủ, nhiều chủ. Nó được cho một diện mạo mới và được chuyển sang một chỗ khác, trang trọng hơn. Lần đầu nhìn thấy diện mạo mới đấy, con mèo già của tôi co chân chạy tuốt lên gác và trốn tiệt suốt vài tuần liền, không cách nào gọi được nó xuống. Người ta hay bảo mèo trông thấy ma. Nó là một còn mèo trắng muốt gót hồng mắt màu bia.
Cái tủ đơn giản biến mất trong mắt tôi. Tôi không nhìn thấy nó nữa. Chắc hẳn người ta đã vứt nó đi. Nó hẳn cũng mục hết cả rồi, và không còn màu xanh nữa. Tôi không hỏi. Tôi không hỏi cả người ta rắc cốt của con mèo trắng ở đâu. Tôi chỉ nghe loáng thoáng là chia làm hai, ở hai nơi. Vì sao thì tôi không rõ. Nó không có một tuổi trẻ oanh liệt mà là một tuổi già trác táng. Những chuyến rong chơi ở tuổi xế chiều khiến nó chết hụt vài lần. Trong đó, một lần, nó bị đánh đến nỗi việc nó lết được về nhà là điều kỳ diệu. Lần ấy tôi vẫn còn cứu được nó.
No comments:
Post a Comment