Ngày 11 tháng Năm 1942
Một chuyến đi Säntis khó quên! Bầu trời xám xịt như bộ lông một con lừa.
Tôi xin lỗi Robert vì đã chẳng mang tới một thời tiết dễ chịu. Ông nói: “Cuộc đời con người lúc nào cũng đầy ánh mặt trời ư? Chẳng phải chỉ ánh sáng và bóng tối mới trao cho nó ý nghĩa của nó ư?” Rít một điếu thuốc, ông leo lên toa tàu của tôi. Chúng tôi chạy tàu về Urnäsch và trò chuyện trước hết là về Herisau mà một phần ngôi làng đẹp cổ kính của nó từ phía đoàn tàu chẳng thể nhìn thấy. Herisau với tư cách là một địa điểm thương mại chính là cái tổ ong của vùng công nghiệp Appenzell. Ở cả hai phía Rhoden đều không có những cộng đồng đông dân. Dẫu thế, vinh hạnh được nhận tại Breitfeld một doanh trại liên bang đã chỉ từ quỷ thần rơi vào người dân Herisau tại cộng đồng dân Trogen vào năm 1862 sau một cuộc đấu tranh gay gắt. Đã cần đến mười bốn phiếu thuận trước khi kết quả cuối cùng có thể được công bố. Robert kể rằng trong lúc nghiên cứu cấu trúc đất nền đã được chứng minh bị sụt lún, phần lớn đề xuất bởi thế mà được tranh luận rất nực cười. Một người đã ra đề nghị, “doanh trại ban đầu nên là ba tầng thay vì hai tầng. Nếu mà tầng một bị lún thì rồi nó cũng thành hai tầng cả!” Ở Herisau có những lúc lộn nhộn không chỉ bởi các lính mới nhập ngũ mà còn cả bởi các bệnh nhân cùng các bệnh tật của họ chạy ngay tới các vị bác sĩ tự nhiên và nha sĩ.Tán chuyện như thế chúng tôi đã đến Urnäsch nằm trọn trong một thung lũng cỏ xanh màu lá hành. Tại đây vào năm 1673 con gấu cuối cùng nặng gần hai trăm Pfund đã bị giết. Vào lúc chúng tôi đi xuyên thành phố trong chiếc ô tô bưu điện màu vàng cam ấy, nó đã phải xông qua một đoàn bò bướng bỉnh do ba người chăn gia súc thổi kèn Lindauerli bọc bạc và một đốm trắng chạy qua chạy lại hệt như một viên trung sĩ hăng hái dẫn lên dãy Alpen. Trên vùng Schwägalp nơi từ tháng tám 1935 đường tàu cáp treo đã dẫn tới ngọn Santis thì chỉ hai chúng tôi là những hành khách duy nhất. Chúng tôi thấy mình hệt như trong một quả khinh khí cầu ngay khi chúng tôi ở độ cao năm mươi mốt mét của một cái cột trượt dần lên không trung, vào trong một làn sương dày đặc biến cả khối núi Santis thành một nhà giặt bốc hơi nước. Tiếc rằng quãng đường dài 2100 mét ở đó độ cao 1200 mét được lao qua, sau mười phút đã nằm lại sau lưng. Chúng tôi thấy chuyến đi quá kịch tính. Hệt như thời tiết mưa đá dữ dội, những miếng đá và tuyết khởi sự va vào các tấm kính. Lúc chúng tôi dí mũi vào miếng kính lạnh, chúng tôi trông thấy những vách đá vôi phủ đầy tuyết tiến lại gần mình như lồng ngực khổng lồ đầy đe dọa. Ấn tượng từ bút pháp của Hodler. Chúng tôi cũng không sao hiểu nổi vì lẽ gì lại ầm ĩ chống lại việc xây dựng tuyến đường này đến thế. Chẳng phải còn hàng tá những lối đi khác ở đó những người đi bộ vô phép cứ quấy phá những người đi ngao du ư? Tại sao những người già và bệnh lại không có cơ hội thưởng lãm sự đồ sộ hùng vĩ của ngọn Alpstein cơ chứ? Chúng tôi tự hỏi là thế và vui vẻ nghĩ đến thực đơn thời tiết kịch tính đang bày ra trước chúng tôi.
Chúng tôi dùng hai giờ đồng hồ sự hiện diện tại đây để đến thăm đài khí tượng liên bang. Một đợt gió Bise lạnh cóng chùm lấy chúng tôi khi, chẳng áo choàng chẳng mũ, chúng tôi trèo được lên căn nhà đá nhỏ trong tuyết ngập đến đầu gối, ở đó một người Bern là Ernst Hostettler từ mười một năm nay sống cùng vợ, chín tháng bị quây kín bởi mùa đông, chẳng có một ai để bầu bạn ngoài chính họ. Chỉ một lần trong năm họ đi nghỉ ba tuần và tới Zürich chỗ người con trai để ngắm các cửa hiệu duyên dáng và xem đoàn xiếc Knie. Thế nhưng rồi hơi thở, cái nóng hầm hập của thành phố và động cơ mô tô với họ trở nên khó chịu, và rồi họ đi tiếp tới vùng thượng Bern hoặc tới Wallis để làm các chuyến du lịch quanh núi. “Hơn hết, người ta phải bứt đi tất tật những gì họ đã dựng nên với tư cách một con người vùng xuôi để có thể chịu đựng được sự cô đơn ở trên đây.”, người trông đài khí tượng nói trong lúc chúng tôi đương giũ tan băng trong căn phòng nhỏ của ông. Ông càu nhàu một chút về quá nhiều người leo núi và chụp ảnh cứ thường bởi sự xâm phạm của họ mà làm ông bực lúc làm việc. Công việc này chuyên chú ông hằng ngày khoảng mười sáu giờ. Lần báo cáo đầu tiên được truyền đi vào sáu giờ ba mươi phút theo giờ Trung Âu tới các đài khí tượng quân đội. Tiếp sau là năm lần báo cáo được trao đổi giữa quân đội, sân bay Dübendorf và trung tâm khí tượng tại Zürich. Những quan sát cuối cùng tiếp tục vào hai mươi mốt giờ ba mươi, thế nhưng chúng chỉ chỉ dùng cho đánh giá mang tính tham khảo. Hơn hết, cần thiết bị đo lường phức tạp và kiến thức chuẩn xác về bốn mươi lăm loại mây của mã thời tiết quốc tế được xếp vào năm trăm ký tự để khiến cho các báo cáo có giá trị thực tiễn. Trong suốt những giải thích này Robert chỉ ngồi im lặng trên sofa. Thế nhưng khi chúng tôi hì hụi leo xuống quán ăn xuyên qua đống tuyết, ông liền nói: “Giờ thì chúng ta thay vì khung cảnh những ngọn núi thì có cả cái nhìn vào số phận hai con người cũng thú vị không kém!”
Tại hiệu ăn chúng tôi còn được nghe rằng mới chỉ chưa đến một trăm năm kể từ khi ngọn Säntis được kết nối với du lịch quốc tế. Năm 1846 người ta đã dựng căn nhà nghỉ chân đầu tiên, hai thập kỷ sau là nhà khách đầu tiên và năm 1887 trạm khí tượng liên bang, tại nơi này năm 1922 đã xảy ra vụ giết người cướp của ghê rợn với cặp vợ chồng Haas. Một thảm kịch khác diễn ra vào ngày 5 tháng Bảy năm 1832 khi đại tá Anton Buchwalder sinh trưởng tại Delsberg đã bị sét đánh trong lúc lắp đặt với tư cách kỹ sư đo đạc liên bang. Người phụ tá đứng cạnh ông đã bị sét đánh chết, còn ông thì liệt nửa thân người. Dẫu thế ông vẫn đi hay bò xuống tận Toggenburg để báo động cho dân làng.
Chúng tôi đã chẳng thiếu chuyện để nói như thế đấy khi sau chuyến đi Säntis chúng tôi còn dạo bộ từ Urnäsch tới Appenzell. Trên đường đi chúng tôi nhìn thấy một vài thợ thêu với những khuôn mặt nhỏ, gần giống như vùng phía nam đang ngồi sau cửa sổ hẹp của ngôi nhà gỗ. Robert kể rằng họ phải làm việc chăm chỉ từ sáng tới đêm nếu họ muốn đem lại một ngày công với bốn đồng Frank. Ở Herisau tôi đề nghị: “Chúng ta hãy uống thêm một ly vang trên đất Appenzeller đ!” - “Được quá chứ!” ông đáp và lịch thiệp ngả chiếc mũ dạ của mình.
Ngày 28 tháng Một 1943
Một hành trình khá mệt trên con đường băng đông cứng từ Herisau tới St. Gallen, tại đó chúng tôi làm ấm người lên trong quán ăn nhà ga bằng cà phê và thuốc lá. Robert ngạc nhiên rằng chúng tôi cần tem phiếu cho món Phô mai. Chúng tôi đi bằng tàu điện xuyên qua những con phố vắng người, tới Heiligkreuz bến cuối cùng. Người soát vé vui vẻ giải thích cặn kẽ cho chúng tôi đường tới Bodensee. Chúng tôi thả bộ, đi bên trái ngang qua nhà thờ xuyên qua khu rừng tù mù của những sơn dương, hươu và nai hiện ra tựa những nhân vật cổ tích từ màn sương dày đặc, hướng về phía Wildpark St. Peter và Paul. Robert vui lắm. Tại nhà hàng của Wildpark chúng tôi đã quên khuấy hết chỉ dẫn phức tạp của người soát vé. Chúng tôi rẽ vào một con phố nào đó và hỏi hai, ba người đường tới Bodensee. Họ đùa là chúng tôi phải đi bộ một quãng xa đấy. Tại quán ăn đề tên “Zur Sonne” chúng tôi gọi Vermouth và Käswähe nóng. Chúng làm ngon miệng khủng khiếp. Rồi sau đó một cô bồi tròn trịa nói rằng chúng tôi không ở xa bến tàu điện nơi chúng tôi một giờ rưỡi trước đây đã bước xuống. Thế là chúng tôi bèn quay trở lại rồi nhắm vào con đường Heerstrasse to rộng, hướng về Rorschach mà hai giờ đồng hồ sau chúng tôi đã tới được, ngay sát sau mười hai giờ trưa. Con đường chính vắng hoe. Cổ áo và cà vạt của Robert trong suốt hành trình đã lệch ra cả. Tôi khuyên ông nên cho chúng vào trong túi. Thế nhưng ngay ở cảng ông đã biến mất vào một nhà vệ sinh để chỉnh chúng lại. Khi ông xuất hiện thì cà vạt và cổ áo xộc xệch tuyệt đối. Tôi nói với ông, cứ thế này phụ nữ cũng thích ông mà. Khi ấy ông cười và yên tâm. Chúng tôi dạo bộ thong dong trong thành phố. Robert hay đứng choáng ngợp trước thật nhiều cửa sổ bày hàng và các ngôi nhà. Vẻ Barock tráng lệ vùng Rorschach hợp với ông. Ông gần như chẳng thể rời bước.
Rồi chúng tôi đi ăn ở quán “Traube”, một nhà hàng với cửa hàng thịt. Thế nhưng chỉ bà chủ và một bé gái tóc vàng ngồi ở đó, trước một bát ngô và nói: “Ở đây các ngài chẳng có gì ăn đâu!” Chúng tôi nhìn thấy cái lò lạnh ngắt trong bếp. Chúng tôi ngắm kĩ một vài thực đơn các nhà hàng khác cho đến khi đặt chân vào “Post” mà một nhân viên hải quan đã giới thiệu cho tôi. Chúng tôi uống Buchberger đỏ và đợi bữa ăn thực sự rất khá: Món thịt bê Schnitzel cùng khoai tây nghiền, đỗ và đậu non. Chúng tôi ăn hết sạch tất tật một cách chóng vánh và sau đó trò chuyện tiếp trong một hiệu bánh ngọt bên cốc cà phê đen. Trên chuyến tàu quay về St. Gallen tôi đã mua Novelle “Der Mantel” của Gogol cho một người bạn trong một hiệu sách. Chẳng áo choàng, cùng chiếc ô gập lại, trong những con ngõ hẹp Robert đi lối đầy bí ẩn vượt lên trước tôi như thể ông đang chạy theo một điều gì đó. Tôi chẳng quấy rầy ông và cứ theo sau ông như một con cừu. Tại nhà hát thành phố tôi để ý rằng ông đang tìm Bayrische Bierhalle tù mù mà chúng tôi từng đến ngồi một lần. Tại đây ông có vẻ thấy thoải mái, và tại đây ông khởi sự kể - điều hiếm khi xảy ra - về chính mình. Ở chợ chúng tôi mua cam mà ông thích, và của một người phụ nữ ồn ào có cánh tay phải bị liệt, chúng tôi mua hạt dẻ ấm nóng. Ly rượu tạm biệt tại sảnh ăn nhà ga. Robert cứ nhắc lại nhiều lần: “Thật là một ngày vui - cậu không thấy thế sao? . Lần tới với Bischofszell thì sao nhỉ?” Tôi lại thấy, đôi môi dày màu đỏ như máu của ông trông giống miệng một con cá chết khô bị kéo lên khỏi mặt nước. Nó, như thể, muốn đớp lấy không khí.
Thuở thanh niên: “Đi ra từ Biel nơi tôi đã học tiểu học và trung học, sau ba năm học nghề tại ngân hàng Kanton vào mùa xuân năm 1895 tôi đã tới Basel, đến tòa nhà ngân hàng và thương mại của Spey&Co với tư cách là một chân sai vặt, tôi chỉ ở lại đó có một phần tư năm. Ông anh trai Karl của tôi khi ấy đang làm việc cho một họa sĩ tại Stuttgart, đã khuyên tôi cũng nên tới đó. Chính vì thế tôi đã liên hệ với bên quảng cáo của nhà xuất bản Đức, tại đây tôi nhận được một vị trí của bộ phận quảng cáo. Tôi ở lại đến mùa xuân 1896. Sau đấy tôi đi tới Zürich, đầu tiên là tôi đã dừng chân lại liên hiệp bảo hiểm, sau đó là một cơ quan tín dụng. Giữa chừng thì tôi hay thất nghiệp, tức là, ngay khi tôi tích cóp được chút tiền thì tôi xin nghỉ để có thể sáng tác chẳng bị quấy rầy. Kẻ nào muốn có được thứ gì lớn lao, kẻ đó nhất định, theo kinh nghiệm của tôi, phải trọn vẹn bên công việc. Cả sự sáng tác cũng đòi hỏi trọn vẹn sức lực của một con người. Đúng đấy, nó hút sạch anh ta. Thế nên nếu chỉ bên lề, như một kiểu trang trí, thì hiếm khi cho ra được thứ gì lâu dài cả. Khi ấy ở Spiegelgasse, tại đó, nơi Lenin đã sống và Georg Büchner đã chết, một phần của “Frizt Kochers Aufsätze” đã hình thành, trong đó có chương về họa sĩ. Một phần khác tại Trittligasse phía bên phải nếu người ta đi lên cầu thang từ Oberdorf. Nếu tôi ở trong một cơn khốn đốn khủng khiếp thì tôi lại viết cả một núi các địa chỉ trong văn phòng dành cho người thất nghiệp.”
“Cậu biết tại sao tôi không bao giờ lên cao được với tư cách là một nhà văn không? Để tôi nói cho cậu: tôi sở hữu quá ít bản năng xã hội. Chắc chắn đấy, là nó” Lúc này tôi nhìn thấy hoàn toàn trọn vẹn. Tôi đã để mình đi quá xa tới tận hưởng cá nhân. Phải, thật là thế, tôi có tiền đề, một kiểu để trở thành kẻ lang thang và chẳng kháng cự lại chút nào cả. Cái chủ quan này đã khiến người đọc của “Anh em Tanner” khó chịu. Theo ý họ thì một nhà văn không được phép đi lạc trong cái chủ quan. Họ thấy nó như sự tự mãn, xem cái tôi bản thân quá quan trọng. Một nhà văn hành xử sai trái ra sao khi anh ta tự cho rằng đồng thế giới quan tâm đến những chuyện cá nhân của anh ta cơ chứ!”
“Ngay Debut văn chương của tôi đã gợi ấn tượng như thể tôi đang chế giễu các công dân đầy trách nhiệm vậy, như thể tôi xem họ chẳng hoàn toàn có giá trị. Điều này họ không bao giờ quên. Bởi thế tôi với họ mãi mãi là một số không béo tròn, một kẻ vô tích sự. Tôi đáng ra nên trộn thêm đôi chút tình yêu và nỗi buồn, đôi chút trang nghiêm và tán thưởng vào những quyển sách của tôi - cũng cả một chút lãng mạn kiểu quý tộc nữa, như Hermann Hesse đã làm trong “Peter Camenzind” và trong “Knulp” ấy. Thậm chí cả ông anh Karl cũng nói điều đó với tôi trong lối nói khéo vòng vo.”
“Ừ, tôi nói thẳng cho cậu: ở Berlin tôi đã với sự thích thú lượn lờ trong những quán ba và vũ trường tục tĩu, hồi ấy, lúc mà tôi sống cùng Karri và con mèo “Muschi” trong một xưởng vẽ, ở đấy ông ấy vẽ cô bạn gái người Séc của mình và con chó Barsoi, còn tôi thì không. Tôi buông thả mình vào thế giới bên trên. Tôi đã hạnh phúc trong sự nghèo khó của mình và sống như một vũ công vô lo. Hồi ấy tôi uống ác. Thế nên tôi trở nên gần như không cứu vãn nổi, và đó hoàn toàn là sự may mắn khi tôi thấy đường quay trở về Biel bên cô em gái Lisa chân thành. Không bao giờ tôi dám quay về Zurück với cái tiếng này.
“Ở Berlin, nhà viết kịch xứ Schwaben Karl Vollmöller, người sinh cùng năm với tôi và khi ấy là đứa con đỡ đầu của Max Reinhardt, đã nói với tôi thật xấc xược như có thể: “Robert Walser, ông đã bắt đầu như một chân sai vặt, và sẽ mãi mãi là một chân sai vặt!” Lão ta đã bày mưu chống lại tôi ở nhà xuất bản Insel vào lúc “Fritz Kocher” xuất hiện tại đó. Kết quả cuối cùng: ngày nay ông ta hoàn toàn bị quên lãng và thêm cả tôi nữa!”
“Trong trại điều dưỡng tôi lại đọc “Heinrich lục”. Nó luôn luôn hút lấy tôi. Cậu tưởng tượng xem, Gottfried Keller, lão quỷ ấy, là thành viên của ủy ban giám sát trại tâm thần “Burghölzli” ở Zürich! Heinrich Leuthold đã đố kị lắm khi bắt gặp Keller tại cuộc thẩm tra. Ông ta gần như sụt xuống đất vì xấu hổ ấy. Một ví dụ cho việc người ta có thể đi đến tận đâu thông qua tính kỷ luật, và đến đâu thông qua tha hóa.”
“Giờ thì tôi chẳng nhớ về Biel lẫn Bern. Ở Đông Thụy Sĩ này cũng thật đẹp. Cậu không thấy thế sao? Tôi thấy thậm chí còn tuyệt ấy. Cậu cũng thấy rồi, mọi người hôm nay thật vui vẻ dễ chịu với chúng ta thế nào!” Tôi chẳng cần gì hơn. Trong viện điều dưỡng tôi có sự yên tĩnh mà tôi cần. Cái ồn ào thì để bọn trẻ làm. Tôi thấy mình hợp biến mất một cách kín đáo nhất có thể. - Ngày hôm nay chẳng phải đẹp tuyệt sao? Chúng ta chẳng phải là những kẻ say mê mặt trời. Chúng ta yêu cả sương mù và khu rừng nhá nhem. Rồi tôi sẽ hay nhớ lại sắc bạc xám của Bodensee, những con thú cổ tích trong công viên và thành phố nhỏ Rorschach mơ màng lắm đấy.”
Ngày 15 tháng Tư 1943
Sinh nhật thứ 65 của Robert!
Cuộc hội thoại dài với Dr. H. O. Pfister, bác sĩ trưởng của viện điều dưỡng, về tình trạng thể chất của Robert. Giữa tháng ba ông đã được đưa về Herisau trong bệnh viện khu vực vì tắc ruột; các bác sĩ đoán rằng có một khối u ở cuối ruột già, nó chỉ có thể được loại bỏ thông qua một cuộc phẫu thuật không phải là không nguy hiểm. Robert đã đón nhận chuyện về căn bệnh như thể nó xảy ra với một người thứ ba vậy. Tuy nhiên, tất tật những thuyết phục của bác sĩ và cả hai em gái của ông nhằm đồng ý ca phẫu thuật thì đều va phải một câu “không” cố chấp. Bởi chứng tắc ruột của ông sau một vài ngày nằm viện đã khá lên nên Robert lại được đưa về viện điều dưỡng, tại đây tình trạng của ông đã cải thiện rõ ràng. Vào buổi sáng, ông lại giúp các điều dưỡng việc dọn dẹp trong khoa, vào buổi chiều trong giờ làm việc thông thường, ông giúp phân loại đậu lăng, đỗ và hạt dẻ, hoặc dán các túi giấy. Ông còn cố để chất cao một chồng giấy hết mức có thể và sẽ cáu kỉnh nếu có ai quấy rầy ông. Trong thời gian rảnh ông thích nhất là đọc những quyển tạp chí có tranh đã ngả vàng hoặc những quyển sách cũ. Với việc sáng tác ông chưa bao giờ tỏ ra bất cứ một động thái nào, Dr. Pfister nói. Đối với các bác sĩ, nhân viên chăm sóc và những bệnh nhân khác ông nuôi một sự nghi ngờ bắt rễ mà ông tìm cách giấu nó kín đáo dưới sự lịch sự kiểu cách. Ai không giữ khoảng cách với ông thì sẽ gặp rủi ro bị mắng rất thô lỗ.
No comments:
Post a Comment